Home Văn hóa Tin văn hóa Tản mạn về Hổ

Tản mạn về Hổ

Email In PDF.

Tổ tiên và lịch sử

hoHổ (tên khoa học: Panthera tigris) là một trong những loài thú có nguồn gốc cổ xưa nhất. Khoảng 56 triệu năm trước, hổ răng kiếm (Machairodus creodon) - tổ tiên của hổ ngày nay - bắt đầu xuất hiện nhiều tại Bắc Âu, Bắc Mỹ. Hổ răng kiếm rất khỏe, dữ tợn, tầm vóc khá lớn, đuôi ngắn, miệng có thể há rộng tới mức hàm trên và hàm dưới làm thành góc 95 độ.

Đặc biệt, bộ răng đồ sộ với những chiếc răng nanh dài tới 17 cm, thò hẳn ra ngoài, thực sự là thứ vũ khí tấn công khủng khiếp gây kinh hoàng cho các loài động vật - kể cả voi mamut khổng lồ. Cách đây khoảng 1 triệu năm, do băng kỷ giá lạnh, hổ răng kiếm rời bỏ quê hương, di chuyển về miền ôn đới, nhiệt đới và định cư tập trung nhiều nhất tại vùng Siberia (Nga). Để thích nghi với điều kiện ngoại cảnh mới, chúng dần dần thay hình đổi dạng, phát triển theo nhiều nhánh, thành nhiều nòi (phân loài) khá giống những loài hổ hiện nay.

Khoảng 30 vạn năm trước, khí hậu Siberia trở nên khắc nghiệt và thức ăn khan hiếm khiến cuộc sống họ hàng nhà hổ tại đây gặp khó khăn. Chỉ loài hổ lớn nhất, chịu đựng khỏe nhất mới trụ lại được, một số bị chết, còn các loài khác phải di chuyển xuống phía Nam, vượt qua dãy núi Altai, cồn cát Mông Cổ, đến những vùng ấm áp hơn. Chúng chia thành 2 nhóm lớn, di cư theo lộ trình riêng, trong thời gian hàng vạn năm. Nhóm thứ nhất đi về hướng Tây, xuyên qua đồng bằng Tân Cương, men theo bờ biển Caspia sang tới tận Thổ Nhĩ Kỳ, vòng vào rừng Ba Tư và Afghanistan rồi xuôi lưu vực sông Indus... Nhóm thứ hai đi về hướng đông, đến Mãn Châu, Triều Tiên rồi xuống Trung Quốc, vấp phải dãy núi Himalaya và sa mạc Trung Á, ngoặt tiếp xuống Đông Dương rồi tràn qua Myanmar, mở đường sang Ấn Độ, gặp lại nhóm thứ nhất. Nhưng chưa dừng tại đó: vốn bơi rất giỏi, chúng vượt eo biển Malaca, đổ bộ lên Sumatra và quần đảo Indonesia, tới tận Bali - chặng cuối cuộc di cư lớn của cộng đồng hổ.

Mấy thế kỷ trước, hổ sống khắp Châu Á và một phần Đông Nam Âu. Nhưng hiện nay, địa bàn cư trú của chúng đã bị thu hẹp nhiều, khoảng một nửa tổng số lượng hổ tập trung tại Ấn Độ, nửa kia rải rác ở Đông Nga, Mông Cổ, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Bhutan, Afghanistan, Tatjikistan và Bắc Iran.

Loài hổ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hổ được gọi bằng rất nhiều tên. Người Việt gọi là hổ, cọp, hùm, kễnh; khái (miền Trung); thầy, hạm, (miền Nam) và các tên ẩn dụ như chúa sơn lâm, ông cả, ông ba mươi. Người Thái gọi tu xưa, xưa cả, xưa cản tao; người Mường gọi tu khán; người M'Nông gọi rơnong; người Êđê gọi êman... Uy danh chúa sơn lâm còn ảnh hưởng đến tên gọi nhiều sinh vật hùng mạnh nhất trong họ mình hoặc có hình thức, cấu tạo giống bộ phận nào đó của cơ thể hổ: tôm hùm, rắn hổ, lá lưỡi cọp, cây ba mươi .v.v...

So với các loài hổ trên thế giới, hổ Việt Nam (thuộc loài hổ Đông Dương) có tầm vóc trung bình, hơi nhỏ: con trưởng thành nặng chừng 106 - 142 kg, thân dài 153 - 160 cm, đuôi dài 67 - 88 cm, bàn chân sau dài 31 - 33 cm. Bộ lông màu vàng nhạt, vàng sẫm hoặc vàng đỏ với  các vằn và khoanh màu đen hoặc nâu đen. Chúng sống rải rác khắp các tỉnh miền núi, hiện có thể gặp ở 17 tỉnh và 14 khu bảo tồn, tập trung ở các huyện: Mường Nhé (Điện Biên), Minh Hóa - Tuyên Hóa (Quảng Bình), Giằng - Trà My - Phước Sơn (Quảng Nam), Sa Thầy (Kon Tum), Easup (Dak Lak). Sách đỏ Việt Nam có đánh dấu trên bản đồ 27 vùng nhiều hổ nhất.

Con hổ là một đối tượng đặc biệt trong cuộc sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam xưa nay. Các triều đại phong kiến coi hổ, rồng là những biểu trưng vương quyền, vì vậy hình ảnh hổ xuất hiện phổ biến và trang trọng nơi cung cấm. Từ thời Đinh (968 - 979), hầu hết các vua chúa đều nuôi hổ để giải trí và làm đao phủ trừng phạt phạm nhân. Từ thời Trần (1226 - 1400), những cuộc đấu giữa hổ với voi (gọi là “hổ quyền”) được tổ chức rầm rộ, đến thời Nguyễn được nâng lên thành lễ hội và tận năm 1904 mới chấm dứt. Xiếc hổ Việt Nam cũng xuất hiện từ khá sớm với nhiều nghệ sĩ tài năng - có người đã nổi tiếng toàn thế giới (như nhà luyện hổ Tạ Duy Hiển - người khai sinh ngành xiếc Việt Nam).

Hình ảnh con hổ đi vào nền văn hoá dân gian nước ta với những biểu hiện, những hình thức phong phú và đặc sắc. Theo thống kê sơ bộ, người Việt Nam có hơn 1.200 câu ngạn ngữ, phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca liên quan tới hổ. Hổ là đề tài trung tâm của hàng trăm chuyện cổ tích, ngụ ngôn, huyền thoại, giai thoại. Hổ còn gợi nguồn cảm hứng mạnh cho nhiều thi sĩ để họ viết nên những bài thơ độc đáo (như bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ năm 1932). Hổ cũng là đối tượng nghệ thuật hấp dẫn thể hiện trên các vật dụng sinh hoạt thường ngày, nhà cửa, nơi thờ tự… - tiêu biểu nhất phải kể đến hình ảnh hổ khắc trên thạp đồng Vạn Thắng (Phú Thọ), tấm phù điêu nông dân đâm hổ ở đình Chảy (Hà Nam), bức chạm khắc gỗ hổ chạy ở đình Lỗ Hạnh (Bắc Ninh) và bức chạm khắc gỗ chàng trai cưỡi hổ ở đình Tiên Kỳ (Nghệ An). Đặc biệt, hội hoạ dân gian Việt Nam đã thần thánh hoá con hổ với trường phái tranh thờ Hàng Trống - chuyên vẽ tranh hổ (hoàng hổ, bạch hổ, hắc hổ, ngũ hổ, tứ hổ…) để treo thờ trong tư cách là những vị thần trấn giữ các phương trời đất! Hổ còn nhập hệ lịch can chi 12 con vật, là biểu tượng chi Dần với những ý nghĩa triết lý - nhân văn sâu sắc. Tháng con hổ là tháng Giêng, đầu xuân, đầu năm mới, tháng mà 3 khí dương (của trời) cân bằng với 3 khí âm (của đất), do đó cũng là tháng mở đầu của con người (nhân sinh ư dần), vì con người là sự cân bằng giữa trời - đất và con người khoẻ mạnh là sự cân bằng âm - dương, nóng - lạnh từ nội tạng…

Người Việt Nam đánh giá rất cao tầm quan trọng và lợi ích kinh tế (nhất là giá trị dược liệu) của hổ, đồng thời cũng từng phải chịu không ít hậu quả do hổ gây ra. Nhiều trường hợp hổ mò vào các bản làng miền núi, bắt gia súc, gia cầm và cả người, gây tổn thất vật chất cùng tâm lý lo sợ cho nhân dân. Chuyện hổ ăn thịt người không hiếm (nổi tiếng nhất là một con hổ hoành hành dọc hữu ngạn sông Đồng Nai trong những năm cuối thập niên 1940: trước khi bị bộ đội Quân khu 7 bắn hạ, nó đã vồ chết và ăn thịt 128 người!). Các mặt lợi - hại kể trên cộng với những nhu cầu, quan niệm thái quá của con người khiến hổ ở Việt Nam từ xưa đã bị săn bắt ráo riết chẳng kém gì ở những nơi khác trên thế giới. Tại thị trường chợ đen hiện nay, giá 2,5 - 3 triệu đồng/ kg hổ, còn giá cao hổ cốt xịn lên tới 7 - 8 triệu đồng/lạng. Số lượng hổ giảm nhanh chóng, cả nước ta bây giờ còn chừng 200 con hổ hoang dã và 95 con trong các vườn thú, trại chăn nuôi (Bình Dương đang có nhiều nhất  với một số chủ doanh nghiệp tỉnh này nuôi tổng cộng tới 62 con hổ).

Ngay từ năm 1963, Nhà nước Việt Nam đã ban hành sắc lệnh bảo vệ hổ. Những năm gần đây, nhiều biện pháp cụ thể cũng được thực hiện: ban hành nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị… cấm săn bắt, buôn bán hổ và tiến hành xử lý nghiêm những kẻ vi phạm; lập hàng chục khu bảo vệ, rừng cấm; phối hợp với WWF khảo sát, tạo môi trường sống thuận lợi tại những nơi hổ thường xuất hiện như Mường Nhé, Vụ Quang, Cát Lộc, Nam Cát Tiên… Trong tương lai, chúng ta cần có các biện pháp toàn diện, hữu hiệu hơn nữa để giữ lấy loài thú đặc biệt, quý hiếm này.

 

Linh Quang

Ngay-nay

 

Di sản Thế giới tại VN

 

Quần thể di tích cố đô Huế

Được UNESCO công nhận năm 1993. Di sản văn hoá., tiêu chí số 4. ...

 

Thắng cảnh Vịnh Hạ Long

Được UNESCO công nhận năm 1994, công nhận mở rộng năm 2000. Di ...

 

Thánh địa Mỹ Sơn

Được UNESCO công nhận năm: 1999 Di sản Văn hoá; Tiêu chí số: 2,...

 

Đô thị cổ Hội An

Được UNESCO công nhận năm 1999 Di sản văn hoá; Tiêu chí số: 2, ...

 

Nhã nhạc cung đình Việt Nam

Nhạc cung đình được là Lễ nhạc, hoặc Nhã nhạc, (dân gian gọ...

 

Di sản thiên nhiên Phong Nha Kẻ Bàng

Công nhận năm: 2003 Di sản Thiên nhiên thế giới; Tiêu chí: 1 Vù...